Biểu lộ trong và ngoài của việc ủ phân

“Chuyên tâm là hình thức hiếm hoi và thuần khiết nhất của sự hào phóng.” – Simone Weil

Hoa giả luôn khiến tôi cảm thấy kì lạ. Không chỉ vì chúng không sống và thường được làm từ nhựa rẻ tiền, có gì đó khác về tính nhân tạo của chúng khiến tôi tò mò nhưng không thể diễn tả bằng lời. Cách đây không lâu, khi đang lái xe về nam trên Đại lộ Cardinal (São Paulo, Brazil), tôi nhìn thấy dòng chữ được viết trên tường một nghĩa trang: “Hoa nhựa không chết.” Chính nó! Hoa giả không chết, chúng không trải qua quá trình chết, đây là điều tôi lâu nay tìm cách diễn đạt.

Phân ủ luôn làm tôi say mê vì có gì đó sâu sắc – không chỉ vì nó có thể giúp tăng năng suất trong nông nghiệp và là phương tiện giải quyết các thách thức lớn về chất thải trong đô thị và nông nghiệp. Tôi luôn cảm thấy có gì đó hơn thế nhưng lại không biết nói sao. Tôi chưa bao giờ cảm thấy ủ phân chỉ có những mục tiêu thực dụng như vậy.

Khi đọc Goethe, nhà khoa học và thi sĩ vĩ đại người Đức, tôi rất ấn tượng với suy nghĩ của ông về Thiên nhiên: “Sự sống là phát minh tinh tế nhất của thiên nhiên; và cái chết là thủ đoạn khéo léo của thiên nhiên để có được sự sống dồi dào.” Đây chính là điều tôi không thể diễn tả bằng lời. Ở đó, giữa những vật liệu đang phân hủy – phân chuồng, những bó rơm mốc meo, hàng đống cỏ dại, rác vườn, thức ăn thừa – chính là nguồn mạch của bất kì trang trại nào. Đống phân ủ là kẻ mang lại sự sống.Thầy tôi từng nói một câu ngạn ngữ: “Muốn biết sức khỏe của một trang trại, hãy đến bãi ủ phân – ở đó ta sẽ thấy trang trại đó dẻo dai và sống động như thế nào.”

Thật đáng buồn, những đống phân ủ trong các trang trại đang trở nên hiếm hoi. Khi độ phì nhiêu của đất bị thu hẹp lại thành vấn đề đầu vào-đầu ra và phân tích chi phí lợi ích, đất chỉ còn là một môi trường để dẫn truyền chất dinh dưỡng cho cây trồng. Nó chỉ được coi là một nền tảng vật lí để cây trồng “đứng lên.” Ý tưởng về việc tạo và đảo trộn các đống phân ủ thường bị chế giễu là quá tốn thời gian, “một quan điểm lãng mạn, lí tưởng, thiếu hiểu biết thực tế nông nghiệp.” Hoặc đơn giản là “không cần thiết.” Và khi các đống phân ủ có mặt trong các trang trại, hai hành động trái ngược nhau thường chiếm ưu thế.

Hai thái cực

Một là, đống phân ủ và bãi ủ phân như một bãi tập kết rác, nơi các vật liệu “phế thải” được chất đống lại với nhau. Khi đủ lượng vật liệu được chất đống, nó được tạo hình thô sơ thành một hình chữ nhật cồng kềnh và phủ rơm lên trên. Nông dân thường quên bẵng nó và năm sau mới quay lại xem. Ngay cả trong số những người thực hành canh tác biodynamic, mối quan hệ với phân ủ kiểu này cũng rất phổ biến, sự khác biệt duy nhất là các đống phân được “cấy” thêm các chế phẩm biodynamic. Trong cả hai trường hợp, biểu hiện và mối quan hệ đều là sự bỏ bê và thiếu quan tâm, với hi vọng rằng Thiên nhiên kiểu gì cũng sẽ lo liệu mọi việc.

Quá trình thối rữa và phân hủy thường chiếm ưu thế trong những đống phân kiểu này. Đống phân ủ để tự nhiên trải qua các điều kiện ngẫu nhiên về nhiệt độ, độ ẩm và bất kì vi sinh vật nào có thể tồn tại trong những điều kiện ngẫu nhiên này đều có thể tác động tới nó. Quá trình lên men kị khí thường xảy ra, dẫn đến sự phát triển mạnh của các vi sinh vật không mong muốn như vi khuẩn khử nitrat. Ehrenfried Pfeiffer đã mô tả ngắn gọn quá trình này như sau: “Sự thối rữa chỉ đơn thuần là sự “phân hủy,” có thể chỉ là sự phân rã hóa học của vật chất động vật, đặc biệt là protein, hoặc cũng có thể được thúc đẩy bởi một số loại vi khuẩn phát triển mạnh trên các sản phẩm của sự phân hủy một phần. Đặc trưng của sự thối rữa kiểu này là mùi hôi thối, các khối nhớt, dính… Nếu sự phân hủy ngẫu nhiên diễn ra đến mức cuối cùng sẽ tạo ra muối, carbon dioxide, amoniac và nitơ tự do, thì tất cả vật chất hữu cơ sẽ bị mất đi, bởi vì các sản phẩm cuối cùng này bị rửa trôi hoặc thoát vào không khí.”

Cùng xem xét thái cực còn lại – đối lập với sự bỏ mặc đơn thuần – việc điều hướng dẫn trở nên quá mức đến nỗi sự sống của đống phân ủ bị chi phối và kiểm soát hoàn toàn.

Loại hình ủ phân này thường được tìm thấy trong các cơ sở ủ phân công nghiệp quy mô lớn. Các đống phân được giám sát từ đầu đến cuối. Độ ẩm, tỉ lệ C/N, nhiệt độ, mùi, oxy và mầm bệnh đều được kiểm soát chặt chẽ. Các máy đảo trộn tự hành cỡ lớn đảo cùng một luống phân từ ba đến năm lần trong một tuần, đảm bảo điều kiện hiếu khí và đẩy nhanh quá trình phân hủy. Trong vòng hai tháng, có thể thu được phân ủ “thành phẩm,” màu đen, dạng bột và tơi xốp, thường rất nhẹ và không có nhiều cấu trúc.

Mặc dù không xảy ra quá trình thối rữa, vì quá trình phân hủy được kiểm soát hoàn toàn từ đầu đến cuối, nhưng điều thường chiếm ưu thế chỉ là quá trình phân hủy theo nghĩa đen, trong đó không nhất thiết phải có bất kì quá trình xây dựng nào hướng tới việc tạo ra mùn. Quá trình này diễn ra quá nhanh, khiến nhiều vi sinh vật có lợi và sợi nấm không thể phát triển hoặc tồn tại đúng cách dưới sự quay liên tục của các luống ủ.

Biến thái, Thời gian và Phân hữu cơ

Một đoạn trích từ cuốn “Zorba, Kẻ hoan lạc” của Nikos Kazantzakis minh họa hậu quả đối với cả thiên nhiên và con người khi kém hiểu biết và thiếu kiên nhẫn đã thúc đẩy và chi phối các quá trình sống: “Tôi nhớ một sáng nọ, tôi phát hiện một cái kén ở phía sau một cái cây đúng lúc một con bướm đang đục lỗ kén chuẩn bị chui ra. Tôi đợi một lúc, nhưng mãi nó không xuất hiện khiến tôi mất kiên nhẫn. Tôi cúi xuống hà hơi vào nó để làm ấm. Tôi cố làm ấm nó thật nhanh và điều kì diệu bắt đầu xảy ra trước mắt tôi, nhanh hơn cả sự sống. Cái kén mở ra; con bướm bò ra từ từ, và tôi sẽ không bao giờ quên nỗi kinh hoàng khi thấy đôi cánh của nó bị gập lại và nhàu nát; con bướm tội nghiệp cố gắng dùng toàn bộ cơ thể run rẩy của mình để xòe chúng ra. Cúi xuống, tôi cố gắng giúp nó bằng hơi thở của mình, nhưng vô ích. Nó cần được nở ra một cách kiên nhẫn và việc xòe cánh nên là một quá trình dần dần dưới ánh mặt trời. Giờ thì đã quá muộn. Hơi thở của tôi đã khiến con bướm co rúm lại, trước cả khi nó tự nhiên xuất hiện. Nó vùng vẫy tuyệt vọng và vài giây sau, chết trong lòng bàn tay tôi.

Việc áp đặt ý chí của chúng ta lên Tự nhiên, nghĩ rằng ta có thể đẩy nhanh mọi thứ hoặc “khắc phục” bất kì vấn đề nào bằng công nghệ tài tình của mình – thông qua hạt giống biến đổi gien, thuốc trừ sâu và máy móc tốt hơn – có thể mang lại, và đã mang lại, những hậu quả thảm khốc về mặt xã hội và sinh thái. Nhưng cố gắng tách rời bản thân khỏi Tự nhiên, cho rằng sự tham gia của ta là không cần thiết, hoặc rằng ta không có khả năng đóng góp cho toàn thể, đặc biệt là khi làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp, cũng có thể dẫn đến những hậu quả tai hại.

Một đống phân ủ không được chăm sóc có thể dẫn đến sản sinh ra các độc tố như ptomaine, mercaptan và hydro sunfua. Nước tràn và nước rỉ từ những đống phân này có thể gây ô nhiễm nước mặt và nước ngầm. Đồng thời, nếu quá trình ủ phân bị thúc ép bằng cơ học, dựa trên những thao tác kiểm soát, các quá trình sống sẽ bị gián đoạn hoặc phá hủy, khiến việc ta đang làm chỉ đơn thuần là một cách phân hủy chất hữu cơ hiệu quả. Khi đó, nghệ thuật ủ phân bị khu hẹp lại thành “quản lí chất thải.”

Bernard Lievegoed từng viết rằng: “Đống phân ủ giống như một con sâu bướm trong kén, với cùng một sự hỗn loạn đó… Cái cây từ đống phân ủ cũng như con bướm xuất hiện từ kén vậy.” Điều này xảy ra khi phân ủ hoai được đưa ra đồng ruộng và rải ở nơi gieo hạt.

Làm thế nào ta có thể bắt đầu coi đống phân ủ như một nơi biến đổi và chuyển hóa tuyệt vời? Làm sao ta có thể phát triển một mối quan hệ khác với quá trình ủ phân, nơi ta không bị thái cực nào chi phối, nơi sự phân hủy chất hữu cơ có thể được dẫn dắt thông qua quá trình tái cấu trúc, hướng tới một cấu trúc hài hòa – nơi phân ủ thành phẩm thực sự có thể nuôi dưỡng Trái Đất, thúc đẩy khả năng phục hồi và sức khỏe của toàn bộ trang trại?

Trong một bài viết khác, tôi sẽ thảo luận chi tiết về kĩ thuật và thực tiễn cách trộn, xây dựng, đảo trộn đống phân ủ, và quan trọng nhất là cách hiểu và tiếp cận các đặc tính khác nhau của chất hữu cơ và chính đống phân ủ. Trong bài viết này, mục đích của tôi là khơi gợi một cách nhìn và cách tiếp cận khác đối với phân ủ.

Trò chuyện với đống phân ủ

Rudolf Steiner, ngay từ năm 1924, đã tiếp cận nhu cầu về một mối quan hệ mới với phân ủ và với nông nghiệp nói chung khi ông giảng khóa học “Nền tảng tinh thần cho một nền nông nghiệp cách tân.” Ông nói về sự cần thiết phải thiết lập mối quan hệ cá nhân với mọi thứ trong nông nghiệp, “đặc biệt là với các loại phân bón khác nhau, với các phương pháp làm việc với chúng. Điều này nghe không dễ chịu, nhưng nếu không có mối quan hệ cá nhân này, nó thực sự sẽ không hiệu quả.”

Để người nông dân hiểu và phát triển mối quan hệ cá nhân này, cần có một cam kết hoàn toàn mới đối với nông nghiệp, việc ủ phân và quy trình sống. Làm việc với phân ủ là khiêm tốn chấp nhận lời mời suy nghĩ lại mối quan hệ của chúng ta với Trái Đất trong khi tích cực tham gia vào một quá trình sáng tạo.

Câu cách ngôn về cách đánh giá sức khỏe của một trang trại thông qua bãi ủ phân sẽ có ý nghĩa và chiều sâu mới khi chúng ta hiểu rằng ủ phân là một hoạt động vượt ra ngoài mục đích thực dụng về năng suất và quản lí chất thải. Nó có nghĩa là bắt đầu nhìn đống phân ủ như một biểu hiện bên ngoài của cách suy nghĩ và mối quan hệ của chúng ta với Thiên Nhiên. Đống ủ bắt đầu hình thành như là hiển lộ bên ngoài của biểu hiện nội tại của người làm vườn.

Ủ phân có nghĩa là kết hợp các thứ lại với nhau – từ tiếng La-tinh composites, “được đặt vào cùng nhau”. Nó có nghĩa là tạo ra một thứ gì đó từ vật liệu đang phân hủy, sắp xếp tất cả các loại chất hữu cơ này thành một thể sống, tạo ra điều kiện sống nơi các vi sinh vật khác nhau, vô số sinh vật và thực thể có thể phát triển. Nhưng điều này đòi hỏi sự chú ý, chăm sóc thường trực và mối quan hệ cá nhân của người làm vườn với toàn bộ quá trình này. Ehrenfried Pfeiffer đã viết rằng ‘bí quyết’ của các phương pháp ủ phân là: “tạo ra những điều kiện sống sao cho không xảy ra sự phân hủy hoặc thối rữa cuối cùng, mà sự sống vi sinh vật trong đất tiếp tục hoạt động, tạo ra một cấu trúc vật chất hữu cơ phức tạp nhưng ổn định. Mùn không phải là một công thức hóa học xác định mà là một trạng thái tồn tại của vật chất hữu cơ được chuyển hóa liên quan đến đất, sự sống trong đất, độ ẩm và không khí. Nó là một trạng thái cân bằng của vật chất, gần như là một sinh vật sống hoặc một điều kiện sống tự thân.”

Chính nông dân là người tạo ra những điều kiện sống này; họ chịu trách nhiệm đưa ra phán đoán đúng đắn về cách trộn nguyên liệu tốt nhất, loại nguyên liệu nào nên sử dụng, vị trí đặt đống ủ và thời điểm nên dừng lại hay bắt đầu một quy trình mới. Làm việc với phân ủ nghĩa là khiêm tốn chấp nhận lời mời suy nghĩ lại mối quan hệ của chúng ta với Trái Đất, đồng thời tích cực tham gia vào một quá trình cấu thành và sáng tạo cụ thể. Đó là một quá trình đáng kinh ngạc, một điều đáng chiêm ngưỡng, khi vật liệu phân hủy biến đổi – giống như nhộng – thành mùn, một chất mang lại sự sống mới.

Ủ phân là duy trì cuộc đối thoại liên tục với khu vườn hoặc trang trại của chúng ta. Hoàn toàn không có công thức duy nhất hay tuyệt đối nào. Thực ra có một số nguyên tắc nhất định về nhiệt độ, độ ẩm, hàm lượng oxy, tỷ lệ C/N và chu kỳ đảo trộn cần được xem xét. Nhưng mỗi trang trại đều gắn liền với một vi khí hậu riêng, cảnh quan nông trại riêng, với quần thể thực vật, động vật và con người riêng biệt. Cuối cùng, mỗi trang trại là một thực thể sống riêng, đang trên đường trở thành một thực thể, luôn luôn phát triển, luôn luôn trong quá trình. Vì vậy, mỗi trang trại có những nhu cầu khác nhau và người nông dân cần phải nhạy cảm với tất cả những sắc thái tinh tế của toàn bộ bối cảnh khi họ đang làm đống phân hữu cơ.

Chỉ khi tôi bắt đầu làm việc chuyên sâu với việc ủ phân, tôi mới bắt đầu hiểu những lời sau đây của Ehrenfried Pfeiffer: “Con người, kẻ hướng dẫn và điều khiển sự khởi đầu, quá trình diễn ra và kết thúc của các quy trình sinh trưởng tự nhiên, là lực lượng mạnh nhất trong Tự Nhiên. Năng lực của hắn là yếu tố quyết định cuối cùng.”

Đống phân ủ có thể là một trường học tuyệt vời và một phòng thí nghiệm thiêng liêng của sự chuyển đổi sâu sắc cả bên trong và bên ngoài. Đây là nơi ta có thể thực hành và nỗ lực phát triển các năng lực và trách nhiệm mà Pfeiffer vừa đề cập.

Việc ủ phân nên được xem là hoạt động xuất phát từ một hành động tự nguyện, từ tình yêu thương đối với Trái Đất và Nhân loại.

Cách thức mà người nông dân liên hệ với toàn bộ quá trình là yếu tố quyết định – mối quan hệ cá nhân này sẽ đòi hỏi không gì khác ngoài sự biến đổi và chuyển hóa liên tục của chính họ. Mùn và nhân loại đều cùng một gốc từ nguyên – để tạo ra mùn trong đống phân ủ, chúng ta cũng phải sẵn sàng tạo ra mùn nội tâm của chính mình, điều này có thể được hiểu qua bài thơ “Nỗi khát khao thiêng liêng” của Goethe:

“Hãy nói với người khôn ngoan, hoặc im lặng, vì đám đông sẽ liền chế giễu. Tôi ca ngợi những gì thực sự sống động, những gì khát khao được thiêu đốt đến chết.

Trong làn nước tĩnh lặng của những đêm-tình-yêu, nơi bạn được sinh ra, nơi bạn đã sinh ra, một cảm giác kì lạ ập đến khi bạn nhìn thấy ngọn nến lặng lẽ cháy.

Giờ đây bóng tối không còn ám ảnh bạn, và khát vọng ái ân cao cả hơn cuốn bạn lên.

Khoảng cách không làm bạn chùn bước. Giờ đây, đến trong phép màu, bay lượn, và cuối cùng, điên cuồng vì ánh sáng, bạn là con bướm và bạn đã biến mất. Chừng nào bạn chưa trải nghiệm điều này: chết đi và rồi trưởng thành, bạn chỉ là một vị khách phiền muộn trên mặt đất tối tăm.”

Đây là phiên bản có hiệu đính của bài báo lần đầu xuất hiện trên số mùa xuân năm 2014 (#282) của Tạp chí Biodynamic.

Nguồn tham khảo:

Bly, R. 1995. News of the Universe: Poems of Twofold Consciousness Chosen and Introduced by Robert Bly. San Francisco, CA: Sierra Club Books.

Kazantzakis, N. 1996. Zorba the Greek. New York, NY: Simon and Schuster.

Lievegoed, B. 1951. The Working of the Planets and the Life Processes in Man and Earth. The Experimental Circle of Anthroposophical Farmers and Gardeners.

Pfeiffer, E.1983. Bio-Dynamic Gardening and Farming, vol. II. Spring Valley, NY: Mercury Press.

Steiner, R. 1993. Spiritual Foundations for the Renewal of Agriculture. Kimberton, PA: Bio-Dynamic Farming and Gardening Assoc. Inc.

Sơn Biodynamics Vietnam

Người dịch: Sơn (Biodynamics Vietnam)
Nguồn: The Inner and Outer Gesture of Composting – Bruno Follador, Biodynamic Journal #282 (số mùa xuân, 2014)