Vì sao bò lại có sừng phần 1/2

Hiếm có một cơ quan nào của động vật được thảo luận rộng rãi như sừng bò. Nó vừa gợi thích thú vừa gây khó chịu. Nhiều con bò không còn sừng vì bị cắt mất khi còn là bê non, hoặc vì khả năng mọc sừng đã bị mai một trong quá trình gây giống.

Trước khi quyết định thực hiện một hành vi xâm phạm như thế, ta chắc chắn cần hiểu rõ ý nghĩa của sừng đối với loài bò. Quyển sách nhỏ này tập hợp một số thông tin từ thực tế và quan sát, ngõ hầu làm sáng tỏ chủ đề này.

Đánh giá lại việc triệt sừng

Các nông trại hữu cơ đặt mục tiêu giảm thiểu can thiệp lên động vật, tương tự như các tiêu chuẩn về hữu cơ của Liên minh Châu Âu (EU) và các quy định của Liên minh Hữu cơ Quốc tế (IFOAM). Tuy nhiên, ngày nay ít nhất ba phần tư số bê con sinh ra trong nông trại hữu cơ bị triệt sừng. Việc triệt sừng của động vật trưởng thành trong nông trại hữu cơ bị cấm ở EU và Thụy Sĩ. 

Điều lệ Khuyến nghị vì Phúc lợi Gia súc của Vương quốc Anh quy định rằng theo Đạo luật Bảo vệ Động vật 1954, cắt sừng trâu bò, bê nghé mà không dùng thuốc gây mê là phạm pháp, trừ khi việc triệt sừng được thực hiện bằng phương pháp đốt hóa chất trong vòng một tuần tuổi. Tuy nhiên, phương pháp này không được khuyến khích. Thay vào đó, con non nên được triệt sừng trong vòng hai tháng tuổi bằng một bàn là nóng sau khi gây mê cục bộ, và người thực hiện phải là một người chăn nuôi gia súc giàu kinh nghiệm và được huấn luyện cẩn thận.

Triệt sừng giúp việc nuôi gia súc trong những điều kiện chuồng trại thả lỏng (gia súc được thả trong chuồng chứ không bị xích lại một chỗ) với không gian hạn chế trở nên dễ dàng hơn và giảm nguy cơ bị thương cho chúng. Tuy nhiên, trong các chuồng trại thả lỏng (loose housing) được dựng riêng cho gia súc có sừng, thương tích cũng hiếm gặp. Sách hướng dẫn về chuồng trại thích hợp cho bò sữa có sừng xuất bản năm 2016 (chỉ có bản tiếng Đức) của Viện Nghiên cứu Nông nghiệp Hữu cơ FiBL (Thụy Sĩ) tổng hợp các kinh nghiệm từ trước tới nay và nêu ra một số khuyến nghị.

Triệt sừng có thể được thay thế bằng việc nhân giống những con vật không có sừng. Vì thông thường gien “không sừng” thường trội hơn gien “có sừng”, ta hoàn toàn có thể dùng phương pháp nhân giống để loại bỏ sừng ở các giống gia súc phổ biến một cách khá nhanh chóng.

Tuy nhiên, trước khi tước đi cặp sừng của cả loài bò vì những lí do thực dụng, cũng đáng tìm hiểu sừng bò có thể quan trọng thế nào. Bởi vì cho đến nay chủ đề này không được giới nghiên cứu quan tâm mấy, các nông dân biodynamic cùng với các nhà nghiên cứu của FiBL đã kết hợp và diễn giải những quan sát và hình dung của họ về giải phẫu, sinh lí và sự phát triển sinh học của sừng, cũng như những chức năng của chúng.

Bản chất của động vật có sừng

Các loài động vật có sừng sở hữu một số đặc điểm độc đáo. Nếu nhìn vào một con vật có hai sừng mọc đối xứng trên đầu, ta biết rằng nó là một loài nhai lại với một hệ thống trao đổi chất khác biệt, có hệ dạ dày kép bốn túi và ruột dài. Tiêu hóa và trao đổi chất đóng vai trò trung tâm trong đời sống của con vật.

Các loài nhai lại chủ yếu ăn cỏ tươi, cỏ khô hoặc lá cây. Chúng cần ít năng lượng để phân tách và chuyển hóa chất xơ hơn bất kì loài vật nào khác. Ngay cả dùng công nghệ cũng không thể nào làm được điều đó một cách hiệu quả hơn. 

Ta không thấy răng nanh hay răng cửa ở hàm trên của các loài nhai lại. Tuy rằng hai loại răng này có tồn tại ở các giai đoạn đầu của bào thai, chúng bị rút lại trước khi mọc xuyên qua nướu. Thay vào đó, nướu hình thành một mảng răng cứng có bề mặt giống như sừng. Ở hàm dưới, răng nanh có hình dạng giống như một chiếc răng cửa thứ tư. Thống trị hàm răng là những răng hàm lớn được dùng để nhai thức ăn thô.

Các loài nhai lại có bàn chân chẻ hai với các ngón đều nhau và luôn có một đôi móng guốc và hai chiếc cựa nhỏ. Loài nhai lại cũng là động vật bầy đàn. 

Con non của loài nhai lại khi sinh ra đã phát triển đầy đủ. Chỉ trong vài giờ sau khi sinh chúng đã có thể tự đứng lên và bú mẹ. Ban đầu, dạ múi khế (dạ dày thứ tư) của con non phát triển nhanh hơn các dạ dày còn lại. Ngay khi con non bắt đầu ăn thức ăn thô (có thể chỉ sau vài ngày nhờ răng sữa đã phát triển hoàn toàn ngay khi sinh ra), các dạ dày trước cũng phát triển, và ở một con bò trưởng thành, dung tích dạ dày có thể lên đến 120 lít.

Trâu bò lớn tương đối chậm so với các loài có vú khác và do đó không cần thức ăn giàu đạm. Đây là lí do vì sao sữa bò cũng không có độ đạm cao lắm. 

Nhau thai của loài nhai lại không chỉ nối liền với tử cung ở một điểm như nhau thai người, mà nó gắn chặt vào toàn bộ bề mặt của màng bao quanh bào thai bằng khoảng 70 núm thịt (u nhau). Có rất nhiều lớp tế bào nằm giữa bào thai và các mạch máu của con mẹ. Nó không được hình thành để bào thai có thể tiếp cận với dinh dưỡng và oxy một cách dễ dàng – có lẽ là một sự chuẩn bị cho việc xử lí các chất xơ khó tiêu hóa sau này?

Vị trí của trâu bò trong những loài có móng guốc

Các loài động vật có sừng nằm ở cuối một chuỗi phát triển dài bắt đầu từ hàng triệu năm trước. Các loài có móng guốc thường có hệ trao đổi chất và các chi khỏe mạnh. Do đó, chúng nằm ở vị trí đối nghịch với nhóm loài gặm nhấm, vốn tập trung phát triển hoạt động thần kinh và giác quan. Các loài ăn thịt có những phẩm chất của cả hai nhóm trên nhưng ở một mức độ thấp hơn – chúng nằm quãng giữa. Sơ đồ dưới đây phân biệt các động vật có móng guốc có thần kinh và giác quan phát triển hơn (đường màu xanh) với các loài có hệ trao đổi chất phát triển hơn (đường màu đỏ), từ đó cho thấy sự phân cực rất thường gặp trong thế giới động vật. Các loài có sừng và trâu bò có hệ thống trao đổi chất phát triển nhất luôn nằm ở cuối tất cả các đường màu đỏ.

Các loài có sừng trong nhóm những loài có móng guốc (theo Wolfgang Schad)

Chi họ loài bò

Từ góc độ sinh học hình thái (morphic biology), có thể thấy mối tương liên rõ ràng giữa hình dáng của cơ thể và hình dáng của sừng. Thân và sừng có vẻ bổ trợ cho nhau – thân càng gầy gò thì sừng càng lớn, thân càng to dày thì sừng càng nhỏ.

  • Các loài trong họ trâu bò như bò nhà, bò bizon, trâu và bò bizon châu Âu có phần thân trước nặng hơn thấy rõ, do kích thước của các dạ dày phía trước (ở con cái thì việc mang thai và có sữa có thể che lấp đi ấn tượng này).
  • Các loài trong họ trâu bò sống ở những vùng có khí hậu mát mẻ hơn thì có xu hướng có sừng nhỏ hơn hoặc hoàn toàn không sừng. Cấu trúc cơ thể chúng chắc hơn và hai chân trước mang nhiều trọng lượng hơn.
  • Trâu bò ở các vùng phía nam có sừng lớn hơn và thân hình thon thả, ít nặng về phía trước hơn.
  • Những con vật sống trong điều kiện nguồn thức ăn thưa thớt có sừng lớn hơn, trong khi những con sống nơi cây cỏ dồi dào thường có sừng nhỏ hơn.
  • Những con sống ở miền nhiệt đới có sừng to và mỏng hơn nhiều so với vùng ôn đới. Nghiên cứu cho thấy rằng ở khí hậu nhiệt đới sừng còn có thể giúp điều tiết thân nhiệt.

Ở linh dương và các loài dê thì kiểu thân hình thon thả phổ biến hơn. Đầu nhỏ hơn và ngẩng cao hơn, còn sừng mọc dốc hơn và mọc từ gần phía trước của hộp sọ hơn.

“Sừng bò hướng lên trên như đầu người – một xu hướng cá tính. Nó cho thấy phẩm cách, giá trị và sự tự chủ. Một con bò có sừng có nhiều các phẩm chất này hơn là những con không có sừng.” (Andi Walle, nông dân

Bò có sừng
Sự khác biệt khó có thể rõ ràng hơn. Bò sừng dài Texas, bò thảo nguyên Hungary và bò Watussi (hình trên) có sừng khổng lồ và thân hình gầy gò. Trong khi đó, các giống không sừng như bò Angus Aberdeen (hình dưới), bò Galloway và bò Fjall lại có thân hình vô cùng rắn chắc.

Mặc dù tất cả các loài có vú sở hữu các cơ quan cơ bản như nhau, có sự khác biệt rất lớn về mức độ phát triển của từng cơ quan ở mỗi loài. Một cơ quan có thể phát triển rất mạnh nhờ sự hi sinh một cơ quan khác. Điều này có thể quan sát rõ nhất ở hàm răng.

  • Chỉ có ở các loài nhai lại là răng nanh và răng cửa được thay thế bằng một mảng răng cứng như sừng ở hàm trên. Thức ăn đi vào miệng lúc đầu không quan trọng mấy, hoạt động xử lí thức ăn thực sự diễn ra ở dạ cỏ và bằng các răng hàm lớn khi nhai lại.
  • Các loài gặm nhấm phát triển tập trung vào thần kinh và giác quan thì có răng cửa mọc không ngừng.
  • Ở các loài ăn thịt thì hàm răng được thống trị bởi các răng nanh lớn và răng hàm sắc dùng để xé thịt con mồi.

Sự phát triển của sừng và gạc luôn luôn có vẻ như được trả giá bằng sự hi sinh của răng. Điều này chỉ ra mối liên hệ giữa sừng và hệ trao đổi chất, tuy rằng nó không hiển hiện ngay.

Những khác biệt giữa con đực và con cái ở cùng một loài cũng dễ thấy – đặc biệt là ở những con vật sống hoang dã.

  • Bò đực mang một trọng lượng nặng đến mức thiếu cân đối ở phần thân trước và có cái đầu to khỏe, da cổ dày sâu, vai rộng và sừng chắc chắn, trong khi bụng và thân sau nhẹ hơn và phát triển tinh tế hơn. Tỉ lệ trọng lượng đổ nặng về phía trước này có thể được quan sát rõ hơn khi con vật nằm xuống hay đứng lên.
  • Ngược lại, bò cái thân hình cân bằng hơn. Phần thân trước không quá nặng, sừng mảnh hơn và thường cong hơn. Vì dạ dày và vú lớn hơn nên phần thân sau của bò cái mang nhiều trọng lượng hơn bò đực – đặc biệt là trong giai đoạn cuối của thai kì.
  • Về tập tính, bò đực tỉnh táo, chú ý nhiều đến môi trường xung quanh và nhạy cảm hơn. Ý thức của bò cái tập trung nhiều vào nội tại hơn.

“Trong biên mục của Al-bulls, các con bò không sừng luôn được chụp hình với phần thân trước đứng trên cao hơn thân sau, bởi vì nếu không thì trông chúng sẽ có vẻ mất thăng bằng. Ngược lại, nếu bò có sừng mà được chụp hình với thân trước đứng cao hơn thân sau thì trông lại xấu. Biên mục này sử dụng các kiểu chụp hình khác nhau cho trâu bò có sừng và không sừng.” (Christian Muller, nông dân.)

Sưng bò
Gạt nai
Hình trên: Sừng của một con bò đực bị mổ năm 14 tuổi. Hình dưới: hai cặp sừng rụng ra từ hai con hoẵng đực.

Kết luận: Trong khi bò đực thể hiện sức mạnh thông qua thân hình lực lưỡng (ở phần thân trước) thì sức mạnh của bò cái nằm ở các chức năng bên trong của nó (về phía thân sau).

Sừng không phải là gạc

Sừng khác với gạc về cả thành phần và cấu trúc:

  • Sừng là da mọc dày đặc và nhô lên. Xương mọc lên bên trong nó tạo thành một lõi xương mà các tế bào máu xâm nhập vào, trong đó có các dây thần kinh, và chứa những xoang khí rỗng lớn lên nối với xoang mũi. Sừng không ngừng mọc trong suốt cuộc đời con vật.
  • Gạc là một cấu trúc xương trần trụi và chết, ban đầu khi mọc ra và lớn lên thì có một lớp da sống bao phủ bên ngoài, nhưng sau đó lớp da này chết đi và bong ra. Gạc rụng đi và mọc lại cái mới hàng năm, cái sau lại lớn hơn cái trước một chút.
  • Trong các loài nhai lại, hươu cao cổ độc đáo vì sừng của nó hình thành từ trước khi ra đời. Sừng hươu cao cổ bao gồm các khúc xương rời có da bọc bên ngoài, chúng xếp gọn lại trong khi chui ra từ bụng mẹ, và sau này khi ra đời rồi mới phát triển cố định trên hộp sọ. Chúng vẫn duy trì da bọc ngoài và tiếp tục mọc trong suốt vòng đời hươu cao cổ.
  • “Sừng” của tê giác thì thực ra là một loại da mọc lên, giống như tóc hay móng tay, không chứa tế bào máu hay dây thần kinh.

 

Sự phát triển sừng ở bào thai và con non

Quá trình phát triển bào thai bắt đầu từ khi tế bào trứng được thụ tinh. Đầu tiên, lớp màng ối phổ biến ở chi Bò bắt đầu hình thành, chính bào thai sẽ tự tách ra từ nó sau này. Thông qua dây rốn, bào thai giữ kết nối với lớp màng ối bao quanh nó và với mẹ nó cho đến khi được sinh ra.

Đầu và tứ chi với năm ngón hình thành rõ khi bào thai được khoảng 5 tuần và dài khoảng 2cm. Đến hết tháng thứ hai tất cả các bộ phận tương lai của cơ thể (bao gồm cả 4 dạ dày) đều đã hình thành rõ ràng, số ngón ở các chi giảm xuống còn hai ngón và bắt đầu có thể nhận ra móng guốc, mặc dù chúng ban đầu chỉ là những mô mềm và ướt.

Guốc bò trong bào thai
Hai chân của một bào thai bê bị phá vào tháng thứ tư của thai kì. Trong tháng thứ tư, độ rắn chắc và màu sắc của móng guốc và cựa thay đổi, chúng chuyển sang màu vàng và tách biệt rõ ràng khỏi các mô của chân.
Bào thai năm tháng tuổi.
Bào thai năm tháng tuổi.
Hình đầu phôi thai bò
Có thể thấy một phần lồi lên bên phải hộp sọ của bào thai bê năm tháng tuổi này. Đây là điểm mà sau này sừng sẽ mọc lên.
Ở bê non mới sinh có một mảng da không lông thẫm màu dày hơn bình thường và hơi bóng. Đây là chỗ mà sừng sẽ mọc ra. Nó được giấu kín và thường được bao quanh bởi một vòng lông hình hoa thị.
Vị trí sừng
Sau vài tuần khi con bê đã bắt đầu ăn cỏ tươi hay cỏ khô, vị trí sừng to dần lên và bắt đầu mọc dài ra.

Khi chiếc sừng non của một con bê vài tuần tuổi mọc ra được khoảng 1cm, ta có thể lấy hai ngón tay cầm nó và dịch chuyển nó một chút về phía trước hoặc sau trên xương sọ. Sau này, xương trán của bê mọc lên từ bên dưới lớp vỏ sừng này. Lõi xương của sừng ban đầu chỉ là sụn, và sau này trở thành xương rắn chắc mọc cố định trên hộp sọ.

 

Vị trí các chòm sao ở thời điểm thụ thai và khi bê sinh ra đóng vai trò nhất định trong việc hình thành sừng. Tác động càng mạnh thì sừng sẽ càng dài và có màu sáng hơn.” (Peter Mika, nông dân.)

 

Nếu mặt trăng ở cung Bạch Dương tại thời điểm thụ thai, sừng của con vật sẽ có xu hướng mọc mạnh và dài lên trên.” (Hans Oswald, nông dân.)

 

Từ khoảng 12 tháng tuổi, các xoang bên cạnh mũi bắt đầu phát triển trong hộp sọ con bê. Chúng nối trực tiếp hoặc gián tiếp với xoang mũi và được bao phủ bằng cùng một loại màng nhầy. Tuy nhiên, khứu giác chỉ nằm ở phần phía sau và bên trên của xoang mũi. Con vật càng lớn thì các xoang càng mở rộng vào bên trong lõi sừng làm cho chúng rỗng thêm.

Ở con bò trưởng thành hoàn toàn, các xoang mũi chiếm toàn bộ không gian trong nhiều phần giữa nóc hộp sọ và vỏ não. Xương sừng rỗng là loại xương duy nhất tiếp tục mọc ra suốt vòng đời con bò, và đương nhiên sừng cũng mọc theo nó.

Hình sừng bò
Xương sừng từ những con bò bị mổ ở các độ tuổi khác nhau, cắt theo chiều dọc (từ chân lên đỉnh sừng): hình dưới - bò non; hình giữa - bò trung tuổi; hình trên - bò già.

Hình đầu bò

 

 

 

Mô phỏng các xoang cạnh mũi bên trái của một hộp sọ bò: 

màu vàng (a): xoang hàm; 

màu cam (b): xoang vòm miệng; 

màu đỏ (c): xoang tuyến lệ; 

màu tím (d): xương xoắn mũi trên; 

màu xanh dương đậm, xanh dương nhạt và xanh lá (e, g, h): xoang mũi trước. 

Các xoang rãnh sàng và xoang bướm không nhìn thấy được từ bên trên.

Con bê
Con bê 12 tháng tuổi này đã có dung tích dạ cỏ lớn và có thể sống khỏe mạnh nhờ ăn thức ăn xơ có tỉ lệ dinh dưỡng thấp. Các xương trong sừng của nó càng ngày càng rỗng hơn.

Móng guốc của một con bê mới sinh đã thành hình hoàn chỉnh chứ không giống như sừng nó. Các móng guốc này kết thúc bằng lớp guốc nhọn có hình dáng hơi xoắn ốc một chút và nhìn hơi giống sừng bị vò nhàu. Lớp guốc mềm nằm ở cuối tứ chi này chính là các mô già nhất trong cơ thể con vật. Mô càng non thì chất sừng càng cứng lại (cứng dần về phía rìa móng guốc giáp với chân).  Phần mũi của móng guốc mọc xiên và chùn lại khi con bê đứng trên mặt đất lần đầu. Móng guốc giữ nguyên hình dáng đó sau này.

Móng guốc bê
Móng guốc của con bê khi mới ra đời. Lưu ý phần đầu móng chùn lại như bị vò nhàu.

“Nếu phần sừng của con non húc phải vật gì đó, hướng sừng mọc có thể thay đổi. Nếu việc này xảy ra trong thời kì dậy thì, nó có thể gây ra biến dạng cho sừng bê. Tôi không bao giờ muốn dùng dụng cụ định hướng sừng, thế nhưng bây giờ tôi luôn cho bê non đeo dụng cụ định hướng sừng bằng gỗ trong khoảng ba tuần từ khi bê được 7-8 tháng tuổi và sừng bê dài khoảng 10cm. Sau ba tuần đó thì tôi tháo nó ra và sừng bê mọc lên rất đẹp.” (Christian Muller, nông dân.)

Người dịch: Linh
Nguồn: https://www.biodynamic.org.uk/why-cows-have-horns