Vì sao bò lại có sừng phần 2/2.

Sừng và móng của con vật trưởng thành

Lõi xương là phần trong cùng của sừng. Chất liệu của nó là xương, và nó gắn chặt vào phần xương trước của hộp sọ. Nó có hình nón và các rãnh gồ ghề chạy suốt chiều dài ở mặt ngoài. Các rãnh này làm tăng diện tích bề mặt và đảm bảo liên kết chặt chẽ giữa sừng với lõi xương.

Chu vi của lõi xương lớn hơn ở phần có vỏ sừng bao bọc, nhưng có một nút thắt cổ chai hơi nhỏ hơn một chút ở gần chân sừng. Các mạch máu lớn đi vào trong xương ở vùng chuyển đổi này.

Phần hẹp của sừng
Có thể thấy rõ đoạn hẹp lại ở phần gốc của lõi sừng.
Da và lông cạnh sừng
Lát cắt theo chiều dọc sừng một con vật vừa bị mổ cho thấy vùng chuyển đổi từ lớp da có lông mọc bên ngoài sang lớp sừng. Chân sừng nằm bên trái, mũi sừng nằm bên phải.

“Nếu sừng có phần chân dày nhưng phần mũi mỏng và sần, đó là dấu hiệu cho thấy con vật khi còn non đã bị thiếu khoáng chất.” (Hans Oswald, nông dân.)

Bên trong lõi sừng là một mạng lưới xoang mũi rỗng. Con vật càng lớn thì các xoang này càng mở rộng thêm, đến gần chóp nhọn của lõi xương, và bên trong chúng có lót một lớp niêm mạc dày. Không khí tràn vào các xoang này với mỗi hơi thở con vật hít vào từ mũi. Vì mỗi hơi thở của bò luôn chứa cả khí ga thoát ra từ dạ cỏ (mỗi phút con bò ợ hơi chừng một hai lần), mùi của dạ cỏ xông thẳng vào các xoang trong lõi xương. Ta có thể ngửi thấy mùi này khi một chiếc sừng của bò bị cắt cụt, hoặc nếu bò có vết thương hở trên xương sừng.

“Nếu áp tai vào chóp một cái sừng và gại vào mũi nhọn của nó, ta có thể nghe thấy tiếng vọng giống như từ máy hát. Bò dùng răng để nghiến thức ăn khi nhai lại. Nó cũng nghe thấy tiếng nghiến răng đó. Bò tự lắng nghe chính nó và nhận thức gì đó về hoạt động của bản thân mình.” (Andreas Letsch, nông dân.)

Cắt phần trên hộp sọ bò theo chiều dọc cho thấy mặt bên trong của các xoang phía trước và vỏ não.

Cấu trúc sừng bò

Cấu trúc sừng

a Xoang mũi trước

b Lớp màng nhầy lót trong xoang mũi

c Lõi xương – phần mở rộng của xương phía trước

d Màng nhầy xương – Periosteum

e Lớp mô dưới da – Hypodermis

f Lớp hạ bì

g Lớp nền của biểu bì – Stratium germanitivum

h Lớp sừng – vỏ sừng – Corneum

i Mũi sừng đặc

k Chân sừng có lông bao quanh

l Lông

m Vòng sừng (các ngấn tròn chạy quanh gần chân sừng)

 

Phần hạ bì lộ ra sau khi bóc đi lớp vỏ sừng và biểu bì

Hình vẽ sừng

a Đoạn nền hẹp với lớp lông tơ mảnh

b Khoảng giữa, hầu như không có lông tơ

c Khu vực quanh chóp đỉnh sừng với lông nhung khá lớn

d Vùng da có lông bao phủ ở gốc sừng

Lớp da bao bọc toàn bộ con vật bao gồm cả phần xương sọ, trở nên rất chuyên biệt ở phần quanh sừng: thay vì sản xuất các tế bào bề mặt rắn chắc có thể bong tróc, phần biểu bì hình thành những ống sừng đặc được gắn liền với nhau bằng các phần chất sừng đệm. Lông tơ và lông nhung hình thành trong lớp mạch của phần hạ bì bên dưới nó, tạo thành nền tảng cho các ống sừng phát triển. Lớp hạ bì cung cấp dưỡng chất cho biểu bì và do đó có chứa các tế bào máu và bạch huyết, và ở mặt ngoài của cơ thể còn có các dây thần kinh, nang lông, tuyến mồ hôi và bã nhờn, cơ và các mô liên kết. Bên cạnh một lượng nhỏ mô liên kết, lớp mô dưới da biến mất ở vùng gần sừng và gần như hòa làm một với màng xương của lõi sừng. Trên toàn bộ cơ thể con vật, lớp mô dưới da mỏng và linh hoạt để không cản trở các chuyển động của cơ và chuyển động co duỗi của tứ chi.

Vỏ sừng là lớp ngoài cùng của sừng. Nó bao phủ vừa vặn lõi xương bên trong nhưng kéo dài hơn lõi xương ở phía chóp nhọn của sừng (với bò là dài hơn 5-15cm, với con non và bò đực thì ngắn hơn nhiều.) Đường cong xoắn của sừng thường thấy rõ ở phần vỏ sừng hơn nhiều so với phần lõi xương, đặc biệt là ở những con bò già.

Chất liệu sừng dày và đặc dần về phía chóp nhọn, đặc biệt là ở bò. Bản thân chóp sừng là phần già nhất của sừng, được hình thành khi bò mới chỉ là một con bê non.

So sánh sừng bò
Sừng và lõi xương của một con bê non (bên trái) và con bò trưởng thành (bên phải). Sừng của con bò xoắn ốc nhiều hơn thấy rõ.

“Goethe nói rằng “Sự sống luôn có xu hướng dịch chuyển theo các đường cong.” Trong đàn của tôi những con vật ít sức sống hơn do gặp các vấn đề về phát triển thường có sừng thẳng.” (Hermann Lutke Schipholt, nông dân.)

Ở đoạn giữa sừng, chất liệu sừng có độ dày khá đồng đều và bề mặt nhìn chung mịn. Đoạn này thường phát triển khi con vật được 1.5-2.5 năm tuổi.

Lớp vỏ sừng mọc lên ngày càng mỏng về phía gốc sừng. Phần mỏng nhất có bề mặt sần sùi hơn và có các ngấn tròn khá sít nhau. Đây chính là các vòng sừng. Mặt trong của sừng thì không có các ngấn này.

Cấu trúc bề mặt bất thường của sừng có liên quan đến nhiều yếu tố, trong đó có số lần bò từng mang thai. Số ngấn trên gốc sừng bằng số con bê mà bò đã sinh ra. Có thể là do bê con cần rất nhiều năng lượng (và dưỡng chất) nên bò có ít hơn để phát triển thêm cho sừng. Nếu bò đực được sống đến khi đủ già, chúng cũng sẽ bắt đầu có ngấn ở quanh gốc sừng. Như thế, việc ngấn hình thành cũng có thể chịu ảnh hưởng của các mùa trong năm hay của loại thức ăn mà chúng được cho ăn.

“Nếu cho bò ăn rơm khô, ngấn sừng của chúng lộ rõ hơn. Người ta có thể đọc được tiểu sử của con bò trên sừng nó, giống như đọc tiểu sử của cái cây bằng các vòng tuổi trên thân cây.” (Peter Mika, nông dân.)

Lớp da trong sừng không ngừng tạo ra chất sừng mới và đẩy nó ra ngoài và lên trên. Phần viền đánh dấu chỗ chuyển từ da đầu sang sừng là hơn bắt đầu của lớp sừng ngoài. Lượng chất sừng được tạo ra quyết định độ dày của sừng suốt chiều dọc sừng. Ở chóp nhọn của sừng, chất sừng góp phần tạo nên độ rắn chắc. Dọc suốt sừng không có khoảng hở nào giữa xương, lớp nhầy tạo sừng và lớp sừng.

Vòng tròn đồng tâm trong sừng bò
Cắt ngang một chóp nhọn sừng bò cho thấy cấu trúc các vòng tròn đồng tâm.

“Nếu đo khoảng cách giữa các vòng tròn nối tiếp nhau của một hình xoắn ốc hài hòa, ta thấy tỉ lệ của chúng là xấp xỉ 8:5:3:2:1 – đây chính là tỉ lệ vàng. Sừng luôn có xu hướng uốn theo hình xoắn ốc. Ta cũng có thể quan sát thấy điều tương tự ở móng guốc của con bê mới sinh – chúng cũng hơi xoắn nhẹ. Phần chóp của móng guốc cũng cong lại ở trước nếu nó mọc ra quá dài.” (Andreas Letsch, nông dân.)

Cấu trúc chức năng và tuổi của bò cũng có thể được liên hệ với ba phần của sừng bò. Ở bê con, chức năng thần kinh – giác quan thống lĩnh (tính tò mò, nhanh nhạy và bắng nhắng). Phần màu đen của sừng phát triển trong giai đoạn này. Khoảng từ một đến hai tuổi rưỡi các cơ quan hô hấp và tuần hoàn của con vật phát triển song song với hệ trao đổi chất. Đây là lí do vì sao một chuyến dạo chơi lên núi sẽ rất tốt cho chúng. Đây là giai đoạn phần giữa sừng phát triển. Khi con bò trưởng thành trở nên tập trung vào trao đổi chất, tiêu hóa và sinh sản, phần gốc sừng phát triển và tiếp tục tiến hóa theo thời gian cùng với quá trình con vật già đi. Phần mũi nhọn rắn của sừng cũng mọc dài hơn do lõi xương phát triển chậm hơn so với lớp vỏ sừng bao quanh nó.



Ngấn sừng
Ngấn sừng của một con bò 12 tuổi.
Bò có 3 màu sừng
Ba phần của sừng bò khác nhau thấy rõ ở bò nâu Thụy Sỹ: chóp nhọn phần lớn màu đen, phần giữa sừng màu trắng (màu tối hơn ở phía trong) và phần gốc sừng màu nâu xám.

Bò đực có đầu khỏe hơn bò cái rất nhiều. Đó là lí do vì sao chu vi sừng của chúng cũng lớn hơn. Lõi xương của sừng đặc biệt khỏe, và cũng như ở bò cái, nó có chứa nhiều khoang lớn. Tuy nhiên lớp vỏ sừng thì khá mỏng so với bò cái. Điều đặc biệt là lõi xương kéo dài gần đến hết phần chóp nhọn của sừng và chỉ có một đoạn sừng đặc rất ngắn.

Sừng tươi bổ đôi theo chiều dọc
Sừng của một bò đực non vừa bị mổ, bổ đôi theo chiều dọc.

Móng guốc

Móng guốc của các loài có móng guốc cũng được hình thành từ chất sừng. Chúng tạo thành phần gấp đôi ở cuối tứ chi của bò (tương ứng với ngón giữa và ngón áp út ở tay người.)

Móng guốc có cấu trúc tương tự như sừng:

  • Phần xương của móng guốc – xương cuối cùng của cẳng chân – nằm ở giữa. Tuy nhiên, không giống như ở sừng, khúc xương này đặc chứ không rỗng.
  • Một khớp nối xương móng guốc với xương đốt ngón giữa (os coronale) nằm ngay phía trên nó. Các cơ và gây gắn liền với nó giúp bàn chân chuyển động. Phần mũi bàn chân được bảo vệ bằng lớp móng sừng giống như chiếc giày dính rất chặt vào xương móng và màng nhầy dưới da giúp sức nặng của cơ thể bò được dàn đều ra toàn bộ bàn chân.
  • Chất sừng hình thành ở xung quanh và dưới bàn chân. Nó mọc từ trên xuống và liên tục bị bào mòn khi đi lại. Nếu quá trình bào mòn không được diễn ra tự nhiên hoặc với sự giúp sức của một chiếc dao gọt móng, xu hướng mọc ra theo hình xoắn ốc sẽ lộ rõ giống như ở sừng.
  • Ngay bên dưới mỗi khớp mắt cá chân có hai cựa nhỏ. Các cựa này là tàn dư của ngón trỏ và ngón út, chúng ngừng phát triển trong thời gian bào thai lớn lên trong bụng mẹ. Tuy nhỏ hơn rất nhiều so với các móng guốc (là ngón giữa và ngón áp út), chúng cũng được hình thành theo một cách giống hệt như hai ngón kia và cũng có chất sừng bao quanh.
Các bộ phận bò chất liệu sừng
18 phần có chất sừng ở cuối các bộ phận của một con bò

Chất liệu sừng

Sừng được hình thành từ da. Tuy là da “chết”, nó được sản sinh thông qua một quá trình sống (tương tự như với vỏ cây). Thành phần chính của sừng là các dạng keratin – một loại protein xơ có chứa lưu huỳnh. Keratin được tìm thấy ở bề mặt da dưới dạng da bị chai, gàu ở đầu, tóc, len, lông măng, lông cứng, gai của nhím, móng guốc, móng vuốt, sừng, móng tay chân, mỏ, tấm sừng hàm của cá voi, mai rùa, và cả ở lụa và mạng nhện.

Chất sừng thường được sử dụng làm phân bón dưới dạng bột sừng (horn meal) hoặc dăm sừng (horn shavings) nhờ có thành phần nitơ chiếm khoảng 12-15%. Trước đây người ta thường dùng sừng để làm khuy áo, lược, tẩu thuốc và các loại tay cầm. Vì sừng rất dễ tạo hình khi được làm nóng và mềm trong nước, người ta có thể cưa, cắt, ép sừng, khoan, gia công trên máy tiện và thậm chí hàn thành các lát mỏng; chất liệu nhẹ và trong của sừng thậm chí còn được dùng để làm đèn lồng và cân dược liệu. 

Nếu sau khi mổ bò người ta lấy ra một chiếc sừng hay móng guốc rồi để đó, nó sẽ khô lại và trở nên cực kì cứng. Khi còn là một phần của con vật sống thì chất sừng còn ẩm, mềm, dễ uốn và dễ cắt.

Các chức năng của sừng

Các đặc tính riêng

Sừng cho phép trâu bò đạt được tầm vóc cao hơn phần rắn chắc của thân hình chúng. Dáng vẻ của bò nom có khí chất là nhờ ở cặp sừng. Vì thị lực của bò chỉ cho phép nhìn rõ trong phạm vi 10 mét với góc nhìn rộng khoảng 60 độ, bất cứ thứ gì nằm ngoài phạm vi đó, bò chỉ mù mờ nhận biết được các nét chính và chuyển động.

Những con bò bị triệt sừng khi còn là bê non thường có hai mắt gần nhau hơn những con còn nguyên sừng. Do đó chúng có xu hướng tập trung nhiều hơn về phía trước và có điểm mù về phía sau lớn hơn bò có sừng một chút.

“Sừng là một biểu hiện của lai lịch con vật. Các phẩm chất về thể chất và tâm hồn đều thể hiện trong hình dáng. Tính cách con bò được đồng loại của nó cảm nhận ít nhất một phần thông qua cặp sừng. Sừng cho bò cái một vị thế cao hơn, nó được đồng loại tôn trọng hơn.” (Christian Muller, nông dân.)

Giữ vị thế trong đàn

Bất kì ai dành thời gian ngắm đàn bò ăn cỏ sẽ sớm nhận thấy những mối quan hệ riêng giữa từng con bò với nhau – thân thiện nhưng cũng tôn trọng thứ bậc. Ở mỗi đàn bò đều có một tôn ti trật tự rõ ràng mà mỗi thành viên đều thừa nhận. Tuy nhiên, vị trí của từng con bò trong đàn luôn phải liên tục được tái khẳng định. Thứ bậc trong đàn thể hiện ở thái độ thống trị của những con có vị trí cao hơn và cách hành xử nhún nhường của những con có vị trí thấp hơn trong đàn, nhưng đồng thời, cả sự đấu tranh không ngừng giữa chúng.

Thái độ thống trị gây ác cảm nhiều hơn. Ta thấy nhiều quan hệ thân thiết khi đàn bò gặm cỏ hay nghỉ ngơi, hay khi chúng liếm láp nhau. Khi cố gắng xua ruồi, chúng vui vẻ đứng gần nhau và thường chen vai thích cánh. Cả hai kiểu hành vi đều có thể gặp ở cùng một đàn bò vào những thời điểm khác nhau.

“Đàn của chúng tôi có những thời kì có sừng rất đẹp, rồi có những giai đoạn sừng lại xấu đi. Những con bò có sừng đẹp thường có vị trí cao trong đàn và có cuộc sống dễ dàng hơn các con khác.” (Christian Muller, nông dân.)

Hình bò có khí chất
Bò nhận ra nhau từ xa nhờ vóc dáng. Chúng ta cũng có thể nhận ra bò của mình dễ nhất nhờ cặp sừng.

“Sừng đem lại cho bò sự thanh thản, thỏa mãn từ bên trong, và cả cảm giác an toàn.” (Hans Oswald, nông dân.)

Một dấu hiệu ít rõ nét hơn nhưng vẫn cho thấy ảnh hưởng của thứ bậc trong đàn chính là khoảng cách giữa các con bò với nhau. Mỗi con bò cần một diện tích không gian khác nhau, phụ thuộc nhiều vào việc nó có sừng hay không có sừng. Với trâu bò có sừng, khoảng cách cần thiết giữa những con có vị trí cao trong đàn và những con có vị trí thấp hơn dao động từ 1 đến 3 mét. Trong khi đó, những con không sừng chỉ cần nhiều lắm là 1 mét. Khoảng không bao quanh mỗi con vật như một cái bong bóng vô hình được gọi là “không gian riêng.” Xâm phạm vào không gian này sẽ dẫn đến việc con bò có vị trí thấp hơn trong đàn phải rút lui ra xa, hoặc nếu không một cuộc chiến sẽ bắt đầu. Với những con bò cùng tuổi, con có sừng hầu như bao giờ cũng ở vị trí cao hơn con không sừng trong đàn. Thông thường bò có tuổi thì có vị trí cao hơn bò còn trẻ.

Không gian riêng giữa 2 con bò
Không gian riêng của mỗi con bò dao động phụ thuộc vào thứ bậc của nó trong đàn. Ngoài đồng cỏ, bò hoàn toàn có khả năng duy trì không gian riêng này mà không gặp vấn đề gì, vì thế sự ganh đua trong đàn ít gặp hơn nhiều so với những đàn bò bị nuôi nhốt trong chuồng trại.

Hiếm khi có vấn đề gì xảy ra giữa những con bò có sừng ngoài đồng cỏ. Tuy nhiên, trong điều kiện chuồng trại lỏng lẻo, hiềm khích và tranh đấu giữa các con bò có sừng có thể xảy ra khá thường xuyên đặc biệt là nếu không gian chật hẹp. Điều này gây căng thẳng và nguy cơ bị thương cao hơn cho bò. Các vết thương nghiêm trọng do sừng gây ra có thể gặp nhiều ở vùng vú và cơ quan sinh dục. Tuy nhiên, ngay cả trong các điều kiện nuôi nhốt chật hẹp, vẫn có thể có những đàn bò có sừng sống hòa thuận. Giữ quan hệ tốt với bò và giảm thiểu thay đổi số lượng bò trong đàn có thể giúp đàn bò được yên ổn.

Xung đột giữa 2 con bò
Một tình huống xung đột trong chuồng: Con bò bên phải đang đe dọa con bên trái, con này phải lùi lại nhường chỗ. Không gian riêng cần cho bò có sừng thường lớn hơn từ 1-3 lần so với bò không sừng.
Chuồng bò
Chuồng trại lỏng lẻo cho phép bò có đủ chỗ để tránh nhau. Chuồng trại này bắt chước đồng cỏ theo cách thức phù hợp với loài bò.

“Nếu tôi có các con bò có sừng hài hòa thì đàn bò của tôi hòa thuận.” (Peter Mika, nông dân.)

Bò bị triệt sừng thường yên hơn bò có sừng trong các chuồng trại lỏng lẻo, chủ yếu vì không gian riêng của chúng nhỏ hơn. Tuy nhiên, các vết thương do thường xuyên dùng đầu cụng nhau cũng có thể xảy ra với bò bị triệt sừng, dù khó thấy hơn từ bên ngoài.

Để tránh phải đánh nhau, bò sống trong điều kiện nuôi nhốt thường ít di chuyển. Người ta đã quan sát thấy rằng trong các chuồng trại lỏng lẻo có diện tích trung bình, trâu bò chỉ di chuyển khoảng dưới 2% thời gian trong ngày, trong khi đó ngoài đồng cỏ thời gian di chuyển của chúng chiếm từ 12 đến 15%. Trong khi bò thả rông ngoài đồng sẽ đi được khoảng 4-10km mỗi ngày, bò bị nhốt chỉ đi từ 0.3 đến 4km.

Khi xảy ra xung đột, bò dùng sừng để phòng thủ và làm chệch hướng đòn tấn công. Sừng thường xuyên được dùng để khóa đầu hai con bò với nhau, giúp chúng không trượt khỏi nhau và cho phép chúng đấu sức với nhau bằng đầu để xem con nào khỏe hơn. Sừng không có chức năng “vũ khí”. 

Bò không sừng không thể đấu đầu như thế, đầu chúng trượt khỏi nhau và chúng phải tấn công nhau ở bên sườn. Chúng không thể đánh nhau theo cách riêng của loài bò.

Các con bò đực còn non đặc biệt thích chơi trò khóa sừng vào nhau – chúng giữ sừng ở đó và cọ trán vào nhau hoặc cọ hai cặp sừng còn nhỏ vào nhau. Các con bò trưởng thành cũng thích chơi trò khóa sừng hoặc gãi sừng cho nhau như vậy.

Bò thể hiện tập tính chải chuốt khá riêng biệt của loài thông qua cặp sừng – ví dụ dùng sừng để gãi lưng. Hoặc có lúc chúng dùng đầu nhọn sừng của một con bò khác để gãi mắt. Mỗi con bò đều nhận thức rất rõ kích thước và hình dáng sừng của mình, biết rõ mũi nhọn của sừng nằm đâu. Nhận thức này cũng cho nó ý thức về vị trí của mình trong đàn.

“Những con bò có sừng mọc chúc xuống thường buồn thảm. Bò có sừng mọc chĩa ra ngoài thường ngỗ nghịch. Bò có sừng mọc hướng lên trên thì không hiếu chiến nhưng cũng không dễ bị bắt nạt. Tôi có một cặp bò sinh đôi – một con có sừng mọc hướng lên, con kia thì hướng xuống. Từ khi còn non con bò có sừng hướng lên đã có vẻ sinh động hơn và bây giờ thì nó cho nhiều sữa hơn.” (Christian Muller, nông dân.)

Tiêu hóa và trao đổi chất

Vì tất cả các động vật có sừng đều là loài nhai lại, ta có thể mặc định có mối liên hệ giữa hệ tiêu hóa phát triển rất cao và cặp sừng của chúng. Tuy nhiên có rất ít nghiên cứu về chủ đề này. Trong Tám bài giảng Rudolf Steiner mô tả mối liên hệ đó (xem trích dẫn bên dưới.) Từ đó rất nhiều nông dân biodynamic đã cố gắng tự mình quan sát về mối liên hệ giữa sừng và hệ trao đổi chất.

“Nếu sừng của một con bò có mùi nặng, ắt bò đang có gì không ổn. Có sự tương quan giữa mùi của sừng và sự trao đổi chất. Sừng thường có mùi silic ngọt, có gì đó hơi cay. Không có mùi gì giống như thế cả.” (Christian Muller, nông dân.)

Quá trình tiêu hóa của bò là cả một kì công. Cho đến nay, không một phương tiện nhân tạo nào có thể chuyển hóa chất xơ thành thứ gì hữu ích cho con người mà tiêu tốn ít năng lượng và chi phí như thế. Các cơ quan tiêu hóa của các loài nhai lại hoàn toàn tập trung vào việc chuyển hóa chất xơ. Đường tiêu hóa “thông thường” – gồm miệng – thực quản – dạ dày – tá tràng – ruột non – ruột thừa – ruột già – trực tràng – được hình thành theo cách mà thực quản tạo ra ba dạ dày phía trước từ khi con vật còn là bào thai. Ba dạ dày này nằm trước ruột non, cơ quan hấp thụ chính. Toàn bộ khối chất xơ đã được tiêu hóa trước cùng với vi khuẩn, men và vi sinh vật sống trong dạ cỏ tiếp tục được tiêu hóa ở dạ múi khế và ruột non và cung cấp nguồn protein quan trọng. Điều này chỉ có ở các loài nhai lại. Với tất cả các loài có tiêu thụ chất xơ khác, như ngựa và thỏ, chất xơ đi qua ruột non và được tiêu hóa bởi các vi sinh vật sống trong ruột già, cho ra sản phẩm cuối cùng với chất lượng kém hơn.

Với các loài nhai lại các quá trình trao đổi chất quan trọng nhất – nhai lại và lên men chất xơ – diễn ra ở phần trước nhất của cơ thể, ở phần mà với phần lớn các loài khác sẽ là nơi các hoạt động giác quan chiếm ưu thế. Trọng lượng phần thân trước và sừng giúp hạn chế “lực tiến lên phía trước” này. Điều này được nhấn mạnh ở việc sừng bò mọc theo đường cong xoáy vào trong về phía một trung điểm nhất định.

Các quá trình tiêu hóa giúp bò sản sinh sữa, bao gồm đủ sữa cả cho người tiêu thụ, và phân để bón cây, phân bò giúp thúc đẩy quá trình tạo mùn và có lợi cho cảnh quan. Mỗi năm bò cái sinh ra một con bê và cuối cùng thì cung cấp thịt cho con người. Chừng đó ích lợi chỉ có thể có được từ cơ thể của bò.

Phẩm chất tiêu biểu của cuộc đời con bò thuộc về điều này – chúng dành hai phần ba thời gian mỗi ngày để ăn hoặc nhai lại. Các giác quan của bò không hướng ngoại mà hướng nội vào trong cơ thể chúng. Khi nhai lại bò thường có vẻ như đang ngủ gật. Trong lúc đó, đầu bò ngẩng cao nhưng sự chú ý lại hướng cả vào trong. Khi nhai cỏ khô chúng đang thực hiện hoạt động trao đổi chất một cách “có ý thức” trong đầu chúng, điều này con người và các loài khác chỉ thực hiện khi ăn thức ăn. Các loài nhai lại chủ động quyết định khi nào bắt đầu nhai lại và nếu bị làm phiền thì chúng cũng hoàn toàn có thể chủ động dừng quá trình nhai lại.

Trong quá trình nhai lại, cỏ khô đã nhai chuyển động qua lại giữa dạ cỏ tối, kị khí và hơi chua nhẹ với khoang miệng sáng, nhiều oxi và giàu tính kiềm hơn. Đây không chỉ là chuyện di chuyển và chuyển hóa dưỡng chất, nó còn liên quan đến năng lượng. Sừng có khả năng ngăn năng lượng thoát ra từ quá trình tiêu hóa và chuyển hướng năng lượng này trở lại cơ thể bò. Hoạt động tái chế tập trung này góp phần tạo nên năng lực trao đổi chất siêu phàm của loài bò. Như thế, chức năng của sừng (và cả móng guốc) trong tiêu hóa và trao đổi chất liên quan nhiều đến năng lượng hơn là đến dưỡng chất.

“Bạn đã bao giờ tự hỏi vì sao bò lại có sừng…? Đây là một câu hỏi quan trọng bậc nhất… Tôi vừa nói rằng tất cả những gì hữu cơ, tất cả các sinh vật không phải lúc nào cũng chỉ có các dòng năng lượng hướng ngoại mà chúng cũng có cả những dòng năng lượng hướng nội… Điều gì xảy ra ở những chỗ sừng và móng guốc mọc ra? Nó tạo ra một điểm mà dòng năng lượng hướng nội đặc biệt mạnh. Dòng hướng ngoại bị đóng lại. Không còn một sự giao thiệp nào thông qua sự thẩm thấu của da hay tóc, cánh cửa cho dòng năng lượng hướng ngoại khép lại hoàn toàn. Như thế, sự hình thành sừng có liên hệ mật thiết với toàn bộ hình dáng con bò… Bò có sừng là để nó có thể chuyển vào bên trong mình cấu tạo hình thành thể cảm dục (astral) và thể dĩ thái (etheric), từ đó cấu hình này có thể hòa nhập vào chức năng tiêu hóa. Thứ toát ra từ sừng và móng guốc từ đó có thể tham gia sâu vào các quá trình trao đổi chất.” (Rudolf Steiner, Bài giảng số 4.)

Hô hấp

Mũi và miệng là hai lối mở mà qua đó bò tiếp xúc với thế giới bên ngoài. Mỗi hơi thở mang không khí từ bên ngoài vào mũi. Các màng nhầy bên trong mũi giúp giữ cho mũi ấm và ẩm. Các tạp chất được mũi giữ lại ở bề mặt ẩm của nó rồi tống ra ngoài sau đó. Các xoang cánh mũi rất lớn của bò giúp tăng diện tích màng nhầy và mở rộng vào tận phần lõi xương của sừng bò, tạo nên một phần quan trọng cho chức năng miễn dịch của hệ hô hấp.

Khi bò hít vào, không khí từ xoang mũi đi vào phổi, đồng thời làm giảm áp suất trong khoang mũi. Khi bò thở ra, không khí từ phổi đi qua mũi cùng với khí ga từ dạ cỏ dâng lên qua họng, tràn vào hệ xoang mũi và lại làm tăng áp suất ở đây.

Khi bò hô hấp, không khí đi qua vùng màng nhầy xoang mũi nơi có các thụ thể khứu giác. Đây là nơi bò cảm nhận mùi của hơi thở đi ra và đi vào.

Xoang mũi bò
Các xoang mũi đi vào sâu tận bên trong sừng

Triệt sừng

Bên cạnh nguy cơ đối với người làm việc ở nông trại, việc thay đổi cách nuôi từ nuôi nhốt có dây xích sang nuôi nhốt trong chuồng trại lỏng lẻo khiến người ta chú ý đến vấn đề sừng bò. Kích thước khuyến nghị và được cho phép ở chuồng lỏng lẻo thường rất chật khiến bò không thể tránh nhau và thường gây xung đột. Vì điều này dẫn đến các con bò trong đàn bị thương thường xuyên, người ta bắt đầu khuyến khích việc triệt sừng của trâu bò nuôi trong chuồng.

Trong các tình huống khẩn cấp khi thương tích ở mức không thể chấp nhận được nữa, ngay cả bò trưởng thành cũng bị cắt sừng. Trong những năm 70 và 80 khi chuồng trại lỏng lẻo bắt đầu trở nên phổ biến, người ta thường triệt sừng bò bằng cách gây mê rồi dùng các dây thép dày để cưa sừng. Người ta bịt kín các mạch máu để cầm máu và nhét một chiếc nút bông vào hốc xoang. Theo thời gian vết thương sẽ dần đóng miệng. Đôi khi một mẩu sừng lùn sẽ mọc lại.

“Những con bò hay húc con khác thường bị cắt phần chóp sừng. Tuy nhiên tôi nhận thấy những con này sau đó không bao giờ có nhiều sữa như trước được nữa. Có khả năng việc cắt chóp sừng đã dẫn đến sự mất định hướng.” (Hans Oswald, nông dân.)

Ngày nay người ta hiếm khi cắt sừng theo cách này. Bây giờ họ thường triệt sừng của bê non khi chúng được bốn tuần tuổi. Ở Thụy Sỹ bê con phải được triệt sừng bằng một bàn là nóng (700 độ C) sau khi gây mê cục bộ, và người thực hiện phải là một người chăn nuôi gia súc giàu kinh nghiệm và được huấn luyện cẩn thận để giảm thiểu tác động tiêu cực lên con bê. Đức cho phép triệt sừng bê cho đến tối đa là sáu tuần tuổi. Ở Anh bê phải được triệt sừng trong vòng hai tháng tuổi, được gây mê cục bộ và người thực hiện phải được huấn luyện để làm việc này.

Việc triệt sừng rất đau đớn. Con bê có thể thấy đau trong khoảng hai ba ngày sau khi thuốc mê tan đi hoặc thậm chí còn lâu hơn. Tuy nhiên vết thương lành nhanh.

Việc triệt sừng có ảnh hưởng rõ rệt lên hình dáng của hộp sọ đang phát triển. Khi đến tuổi trưởng thành phần lớn các con vật bị triệt sừng thường có một phần lồi ra rõ rệt ở trước trán.

Nếu nhìn vào bên trong của xương hộp sọ ta thấy rằng phần lồi ra này – cũng giống như lõi xương của sừng – chứa đầy các xoang khí. Có thể con vật cần một lượng xoang mũi nhất định và phải bù đắp việc mất sừng bằng cách hình thành phần xương lồi ra này.

“Nếu một con bò chẳng may bị mất vỏ sừng thì nó có thể mọc ra lớp mới. Con vật càng non thì sừng càng dễ mọc lại.” (Rochus Schmid và Martin Bigler, nông dân.)

Quán sát hơn 230 hộp sọ trâu bò được lột da ngay sau khi giết mổ cho thấy một tỉ lệ lớn các hộp sọ của những con bị triệt sừng có phần trán lồi ra.

So sánh bò triệt sừng và không triệt sừng
Hai con bò Jersey bị triệt sừng và còn sừng. Ở con bị triệt sừng, trán lồi lên thấy rõ.

Thêm vào đó, những xương phía trước của các con vật bị triệt sừng có hình dáng lõm hơn, nhô về phía trước hơn, và khoảng cách giữa hai mắt hẹp hơn. Những con có sừng nhìn chung thường có xương phía trước phẳng (đặc biệt là ở phần trên) hoặc cong nhẹ, và khoảng cách rộng hơn giữa hai mắt.

“Những con có sừng nhọn thường có tính dễ nổi nóng. Chúng có thể gây thương tích cho con khác rất nhanh và không có dấu hiệu gì báo trước. Con vật cũng như cả đàn sẽ ngoan ngoãn hơn nếu chóp sừng của chúng bị cưa đi. Gắn thêm một khối đệm hay một quả bóng vào sừng không có ích gì mấy, vì chúng làm sừng trông còn to hơn và con bò trông càng có vẻ đầu gấu hơn.” (Andi Walle, nông dân.)

Hai nửa hộp sọ
Một nửa hộp sọ của con bò có sừng (bên trái) và nửa hộp sọ của con bò bị triệt sừng từ khi còn là bê con (bên phải).

Cách cơ thể con vật phản ứng với việc bị mất đi một vài cm2 da ở chóp sừng bằng cách thay đổi hẳn cách hình thành hộp sọ như thế cho thấy rằng trâu bò thực sự cần sừng của chúng và phải bù đắp cho việc mất sừng bằng những thay đổi đáng kể các xương phía trước.

Nhân giống những con không sừng

Để tránh sự can thiệp cần thiết cho việc ngăn chặn sự phát triển sừng, ngày càng có nhiều nỗ lực nhân giống những con có gen không sừng. Bằng cách này, con vật tránh được rất nhiều đau đớn và áp lực, đồng thời người nuôi tiết kiệm được cả thời gian và tiền bạc.

Tuy nhiên trong việc nhân giống những con không có sừng, người ta bỏ qua không cân nhắc đến ý nghĩa của sừng đối với con bò. Như đã mô tả trên đây, cặp sừng là một phần cốt yếu của bản chất loài nhai lại. 

Nhân giống để bò không có sừng là một sự can thiệp ở mức cao hơn bởi vì không chỉ từng cá thể bò mà cả một nòi giống bị ảnh hưởng. Khi một giống bò đã trở thành không sừng – điều này không khó thực hiện vì gen không sừng là một loại gen trội – điều này không thể đảo ngược được nữa ở giống bò đó. Ta không biết những hậu quả của việc này.

Ở trường hợp của những con dê được nhân giống để không còn sừng, các vấn đề về chức năng sinh sản có thể xảy ra nếu con vật thừa hưởng gen không sừng (homozygote) từ cả con bố lẫn con mẹ. Với cừu và trâu bò thì vấn đề này chưa rõ. Tuy nhiên, ở những con bò đực già không sừng, hiện tượng dương vật bị xoắn vặn xảy ra nhiều hơn so với những con có sừng. Sự biến dạng theo hình xoắn ốc của dương vật xảy ra khi con bò chuẩn bị giao phối, và vì thế nó không thể giao phối được nữa. Trong một nghiên cứu thực hiện ở Canada, hiện tượng dương vật xoắn vặn là lí do khoảng 25% số bò đực không sừng 5 tuổi bị lọc ra để giết bớt.

Có những giống không sừng đã được nhân giống và nuôi mà không gặp khó khăn gì từ hàng trăm năm nay. Tuy nhiên ta không biết bản thân con vật cảm nhận như thế nào về điều đó.

Khuyến khích sự tin cậy giữa người và vật

Một khảo sát với nông dân cho thấy rằng những người có trâu bò bị triệt sừng cho rằng sừng nguy hiểm. Những người để nguyên sừng cho trâu bò của mình không phải lúc nào cũng thấy vậy. Chăn nuôi trâu bò có sừng đòi hỏi người nuôi có ý thức và tập trung cao hơn khi nuôi những con không sừng vì không gian vùng đầu và khu vực di chuyển của chúng đều lớn hơn.

Nông dân và con bò
Dắt bò đi dạo với một thái độ chăm chú và tử tế tạo ra sự tôn trọng lẫn nhau. Đây là nền tảng của một mối quan hệ tốt đẹp, không sát sinh.

Ta cần cẩn thận khi buộc bò có sừng, phải đứng phía sau và hơi chéo bên cạnh đầu, ở gần sát con vật. Tuy nhiên khi dắt nó đi thì phải duỗi dài tay ra.

Nếu ngay từ khi sinh ra người nuôi chịu khó tạo dựng niềm tin giữa mình với con vật, nó sẽ không bao giờ chủ động dùng sừng để tấn công người. Tuy nhiên vẫn có thể xảy ra tai nạn khi tiến đến gần vùng đầu của bò mà thiếu sự cẩn trọng cần thiết, nếu không để ý đến chuyển động và ý định của bò, hay nếu bò bỗng nhiên cư xử khác thường vì sợ hay bị sốc. Sự tin tưởng lẫn nhau giữa người với bò là nền tảng của một mối quan hệ tốt đẹp, không thương vong. Có thể tham khảo những khuyến nghị về việc chăn nuôi trâu bò theo cách không gây áp lực trong tài liệu hướng dẫn của FibL (có bản tiếng Đức và Pháp.)

Những đặc điểm về phát triển, sinh lý và tập tính được mô tả trong tài liệu này cho thấy rõ ràng tầm quan trọng của sừng với bò và các loài nhai lại khác. Từ đây, một khuyến nghị rõ ràng cho phong trào hữu cơ nói riêng và người chăn nuôi nói chung chính là nên giữ lại sừng cho trâu bò.

Người dịch: Linh
Nguồn: https://www.biodynamic.org.uk/why-cows-have-horns